Ngô Hữu Đoàn

~~~~ Dzui thôi mòa! ~~~~

Từ một giải thưởng

Posted by NHD on Tháng Ba 28, 2007

Từ một giải thưởng
Phạm Xuân Nguyên
28.3.2007

Sau khi Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật đợt ba (2006) được công bố, trong đó thu hút chú ý dư luận nhất là bốn nhà thơ của nhóm Nhân văn-Giai phẩm (Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán), tôi nhận được những lời đề nghị của các báo viết bài bình luận, đánh giá. Nhưng rồi tôi cũng chẳng viết được gì nhiều. Nhân đọc bài của nhà văn Nhật Tiến trên talawas, tôi nảy ý xâu chuỗi lại mấy bài viết ngắn trước và sau giải này, kèm theo mấy ghi chú, để bạn đọc có thể hình dung phần nào sự việc (qua cách nhìn của tôi, cố nhiên!).

I. Đừng để giải thưởng nhà nước mất thiêng

(Khi danh sách giải thưởng được cho công bố trên báo chí để bàn luận vào tháng 7/2006, một cô phóng viên văn hóa văn nghệ của báo Lao động điện phỏng vấn tôi, nói là để đăng cùng những ý kiến khác. Tôi đã viết những suy nghĩ này của mình và gửi cho. Khi báo in ra, ý kiến của tôi bị cắt đi nhiều, chẳng còn mạch lạc, nhất quán.)

Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật là trao tặng cho các văn nghệ sĩ về công lao của họ đóng góp cho cách mạng dựa trên giá trị tác phẩm sáng tạo của cá nhân từng người. Giá trị này được thừa nhận và được phổ biến qua thời gian, tính từ năm 1945 được lấy làm mốc. Đây là một giải thưởng cao quý nhưng ngay từ lần xét trao giải đầu tiên đã có những ý kiến băn khoăn mà nguyên nhân theo tôi là chưa phân định rõ ràng, rạch ròi giữa công lao với cách mạng và giá trị của tác phẩm văn học nghệ thuật. Công lao với cách mạng nghiêng về bình diện chính trị và đã có những huân chương, huy chương ghi nhận. Mà xét theo bình diện này thì còn phải tính thâm niên tham gia cách mạng. Còn giá trị tác phẩm là căn cứ chính để trao tặng Giải thưởng Nhà nước, và nó có thể không phải cứng nhắc đợi đủ năm đủ tháng. Nếu còn nhập nhằng về cách hiểu và cách phân định thì sẽ còn những trường hợp để lọt hoặc để sót khi xét tặng. Lại nữa, mốc tính tác phẩm ra đời để xét giải là từ 1945 nhưng có những trường hợp phải châm chước. Nếu như trước đây có những trường hợp “quá độ” thì còn có thể chấp nhận, nhưng không nên “quá độ” nhiều quá.

Từ mấy ý chung nêu trên, nhìn vào danh sách văn học được đề nghị xét Giải thưởng Nhà nước đợt 2006 này tôi thấy có mấy điểm.

1. Đưa Hoàng Cầm, Hữu Loan, Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán vào danh sách là chính xác và hợp lý cả về giá trị tác phẩm của họ, cả về công bằng khách quan của lịch sử. Và như thế thì sao lại để Dương Tường, Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Xuân Khánh, Trần Trí Trắc, Trang Thế Hy ở ngoài diện xét đợt này?

2. Bởi vì để lâu nữa thì sẽ muộn. Như một số tác giả ở đây đã được đưa vào xét quá muộn khi lẽ ra họ đã xứng đáng được giải ngay khi còn sống. Khương Hữu Dụng, Yến Lan, Lý Văn Sâm, và gần đây nhất là Hoàng Văn Bổn, thật ngạc nhiên là bây giờ mới có tên trong danh sách, mà thời gian qua thì họ vẫn thế thôi, còn giờ đây họ mất rồi. Giải vì thế trao cho họ đã muộn, và cái muộn này khiến niềm vui cũng bớt đi đôi phần.

3. Cũng lạ nữa là sao đến bây giờ Thâm Tâm, Trần Đăng mới được xét giải. Họ, những người đầu nguồn của văn học cách mạng, những người mà tác phẩm đã nổi tiếng từ lâu, đã được đưa vào bao hợp tuyển, vào sách giáo khoa, đã được đánh giá cao trong các bộ từ điển văn học, ngờ đâu lại bị thiệt thòi đến vậy. Tôi nghĩ các hội đồng chọn xét giải phải rà soát cẩn thận kỹ lưỡng các thế hệ, các giai đoạn văn học để đừng xảy ra sự muộn màng chậm trễ rất đáng trách này nữa.

4. Như đã nói về độ “thâm niên”, không phải chờ người ta già đi hay chết rồi mới xét giải, mà căn cứ vào giá trị tác phẩm, thời đổi mới tôi thấy có năm tên tuổi đáng được chọn xét. Đó là Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Quang Thiều và Phan Thị Vàng Anh. Tôi xin nhắc lại: đây là xét theo giá trị văn học của tác phẩm.

Kết luận lại, để Giải thưởng Nhà nước có giá trị và có uy tín, việc chọn và xét giải phải được làm nghiêm cẩn, công minh, và chính xác, tránh tình trạng đại trà, bình quân. Vì theo quan sát của tôi, kiểu làm giải thế này thì rồi ra cuối cùng ai cũng được giải cả, thế là giải mất thiêng.

Hà Nội 11/7/2006

II. Ý kiến về Hữu Loan

(Báo Phụ nữ TPHCM dành hẳn trang văn hóa văn nghệ đăng bài phỏng vấn Hoàng Cầm, Lê Đạt. Trong ý kiến của Hoàng Cầm có tỏ ý tiếc là giải thưởng không có Hữu Loan. Các anh ở ban văn hóa văn nghệ của báo đề nghị tôi nói một chút về chuyện này. Ý kiến này của tôi đã đăng ở “box” trên trang báo đó, số 13, ra ngày 23/2/2007, chỉ với một sửa đổi nhỏ: thay từ “công nghiệp” bằng từ “đóng góp”.)

Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm nay có tên Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán là bày tỏ một sự công bằng lịch sử. Nhưng tôi thấy tiếc khi lẽ ra sự công bằng sẽ trọn vẹn hơn nếu có cả tên tuổi Hữu Loan trong danh sách giải thưởng. Thứ nhất, vì thơ Hữu Loan xứng được trao giải đó. Thứ hai, vì công nghiệp của Hữu Loan cho đất nước và cách mạng xứng được trao giải đó. Thứ ba, vì cùng với bốn ông trên, Hữu Loan xứng được trao giải đó. Thứ tư, vì độc giả và công chúng đồng tình Hữu Loan xứng được trao giải đó. Hữu Loan bị vắng mặt trong giải thưởng nhà nước kỳ này thật là đáng tiếc, là đáng không nên, không phải. Tôi, ở cả tư cách một độc giả và một người nghiên cứu văn học, muốn biết lý do tại sao Hữu Loan không có tên trong danh sách giải thưởng lần này. Có ai trả lời tại sao cho tôi không?

III. Sự trao tặng cần thiết

(Anh Nguyễn Hữu Hương làm báo Doanh nghiệp chủ nhật, tức số cuối tuần của báo Kinh tế hợp tác của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, từ Đà Nẵng gọi điện ra đặt tôi viết một bài về giải thưởng dành cho bốn vị Nhân văn. Sẵn ý “sự công bằng lịch sử” ở ý kiến nói về Hữu Loan, tôi viết bài này để nói thêm ý “sự giải oan lịch sử”. Bài viết sơ sài nhưng khi gửi đi tôi cũng ngại mấy chữ đó bị cắt nên có viết cho anh Hương mấy dòng trên email. Báo ra, số 9/2007, bài đăng nguyên vẹn, với lời “chapeau” anh Hương viết như sau: “Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên gửi cho DNCN bài viết này và kèm theo Email: “Về nội dung bài thì mong được giữ nguyên y như của người viết, đừng cắt bỏ gì”. Tôn trọng ý kiến của người viết – và thực sự chẳng chuyện gì phải “cắt bỏ”. Sự thật là lúc nào cũng sáng trong, đáng được trân trọng và nâng niu. Dù những trích đoạn những bài thơ có dài so với trang báo nhưng chưa hết. Mượn lời nhà văn Nguyễn Khắc Phê: “Lời chúc năm mới: Sự thật lên ngôi” (DNCN Xuân Đinh Hợi) cũng là lời chúc của DNCN đến các anh và bạn đọc!”. Và rồi anh Hương đã bị rầy rà vì cái “chapeau” đó. Tôi cẩn thận không thừa, anh kinh nghiệm không thiếu, nhưng làm báo ở ta nó thế, anh Hương ạ.)

Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán đã được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật lần thứ ba (2006). Họ xứng đáng được nhận giải thưởng đó. Và sự trao tặng giải thưởng đó cho họ là cần thiết. Bởi đó là sự công bằng lịch sử, là sự giải oan lịch sử.

Tôi không nói quá đâu! Xin hãy đọc họ:

Chép hết bài ca chưa hiểu hết lòng người
Dựng được bài ca chưa xây dựng cuộc đời
(Hoàng Cầm, 1956)

Tôi có thể quên năm, quên tháng
không bao giờ
quên sáng tạo vì dân.

Tôi sống bao nhiêu
cũng chỉ ôm chân lý một lần.
Tôi mãi mãi ôm cờ cộng sản.

Tôi còn sống, tôi còn ca hát.
Dù khi mọi nhà thơ
đã mệt lử lời ca.
Dù khi sóng ngàn khơi
đã vỗ rạc rời,
đến như biển cũng mệt nhoài đi ngủ.
Vẫn còn tôi – giọng bão trầm trầm,
đứng hát mãi –
dưới chân cờ đỏ.
(Trần Dần, 7/1956)

Mỗi bước chúng ta đi về đằng trước
Có mấy nghìn năm
níu lại
đằng sau
Những hủ tục,
những thói quen,
nếp cũ
Những con người ụ
Ềnh ra cản đường
Cần biết bao nhiêu
Những cái đầu táo bạo
Dám nghĩ
dám làm
Không nô lệ chung quanh
Những con người cả gan đánh bốc
Với những già nua cũ kỹ của cuộc đời
(Lê Đạt, 1956)

Tôi quyết tâm rời bỏ
Những vườn thơ đầy bướm đầy hoa
Những vần thơ trang kim trang mã
Dán lên quân trang đẫm mồ hôi và máu tươi của Cách Mạng
Như công nhân
Tôi quyết đúc thơ thành đạn
Bắn vào tim những kẻ làm càn
Vào lũ người tiêu máu của dân
Như tiêu giấy bạc giả!
Trung ương Đảng ơi!
Lũ chuột mặt người chưa hết
Đảng cần phải lập những đội quân trừ diệt
Có tôi
Đi trong hàng ngũ tiên phong.
(Phùng Quán, 1956)

Thơ ấy, người ấy là vì cách mạng, cho cách mạng. Tiếng thơ của họ đã cất lên vì cuộc sống dân chủ, vì con người tự do, vì những giá trị nhân văn và nghệ thuật cao cả, thiêng liêng. Nhân danh cách mạng và những lý tưởng cách mạng, họ đã báo động những nguy cơ có thể làm hỏng cả cách mạng.

Nhưng chính vì lẽ đó họ đã bị lâm nạn trong phong trào Nhân văn-Giai phẩm và gánh chịu gần nửa thế kỷ những trầm luân, khổ nhục. Cho nên Giải thưởng Nhà nước lần này trao cho họ, xin nhắc lại, là một sự cần thiết: tỏ một thái độ công bằng lịch sử, giải oan lịch sử. Trên chữ nghĩa thì không nói rõ ra như thế, nhưng chỉ riêng việc quyết định trao giải cho bốn nhà thơ này được Chủ tịch nước ký tách ra thành một văn bản thì đã có ý nghĩa đó. Đây là động thái phải có của một xã hội đang trong quá trình dân chủ hóa. Tiếc là Trần Dần, Phùng Quán đã qua đời. Tiếc là còn những người khác cũng xứng đáng như vậy mà chưa được trao, như Hữu Loan. Nhưng sự sòng phẳng với quá khứ là cả một hành trình nhận thức và hành động không đơn giản và dễ dàng đối với người ra quyết định. Bước thứ nhất đã đi, tất sẽ phải có những bước tiếp theo.

Giải thưởng này cũng khẳng định giá trị sáng tạo văn chương của bốn nhà thơ mà tưởng đâu như bi kịch cuộc đời đã khiến họ gục ngã. “Cắn chặt răng mà chịu thiệt / Đứng vững gót để làm người”, họ đã sống qua thời mình chính là với tinh thần như vậy, nhờ thơ ca, nhờ nhiệt huyết sáng tạo không ngừng sôi réo trong con người mình. Nhớ bài thơ Phùng Quán viết tặng Hoàng Cầm trong phút giây thi sĩ ngã lòng suy sụp, ông động viên bạn và động viên cả mình: “Tôi tin núi tàn / Tôi tin sông lấp / Nhưng không thể nào tin / Một nhà thơ như anh / Lại ngã lòng suy sụp”. Nhớ niềm tin trong khốn cùng của Trần Dần: “Nếu quả thực anh không lường đảo / Hãy trữ đủ đau thương / Cho mãn hạn làm người”. Bằng thơ, bản lý lịch đời mình, các ông đã chứng thực được mình là ai, hôm nay.

Tôi yêu đất mẹ đây –
có cỏ hoa làm chứng
Tôi yêu chủ nghĩa này
cờ đỏ cãi cho tôi
Hãy đi mãi như người
cộng sản
Có thể mỏi mọi điều
không mỏi: tấn công!
Phải làm lại chúng ta, tất cả –
không tha
Để đừng có một ai lần lữa
khi nào
chân lý gọi tên đi

Lời kêu gọi “Hãy đi mãi” này của Trần Dần vang lên đúng nửa thế kỷ trước đây. Nửa thế kỷ sau lịch sử đã chứng minh cho ông và các văn hữu của ông. Và Giải thưởng Nhà nước trao cho các ông năm nay là một thí dụ.

Hà Nội đầu xuân Đinh Hợi 2007

IV. Mới là Lê Đạt

(Bài này do báo Người lao động ở TPHCM đặt, và đã đăng số ra ngày 16/3/2007, nhưng với đầu đề đổi lại là “Nụ cười Lê Đạt” và có vài câu cắt bỏ).

1. Trưa mồng 5 Tết Đinh Hợi, mưa bụi giăng phố phường Hà Nội, mấy anh em văn nghệ ghé xe đón Lê Đạt sang Bắc Ninh du xuân ở nhà đồi của nhạc sĩ Dương Thụ. Ở tuổi bát thập ông vẫn cười giòn giã. Một cái cười rất Lê Đạt. Ấn tượng nhất cho ai lần đầu gặp Lê Đạt là cái cười hồn nhiên, sảng khoái, cười như không có gì đáng cười cả. Dọc đường đi, cũng như trong suốt cuộc nhậu tân niên ở nơi lánh mình của người hát ca “bay vào ngày xanh”, mọi người chúc mừng Lê Đạt cùng Hoàng Cầm, Trần Dần và Phùng Quán, nhóm anh em “hoạn nạn” như chữ ông hay dùng, được Giải thưởng Nhà nước. Ông cười: thì cũng phải thôi, thì đó là một cử chỉ đẹp. Ai đó nhắc câu thơ thuở nào ông viết: Những kiếp người sống lâu trăm tuổi / Ỳ như một chiếc bình vôi / Càng sống càng tồi /Càng sống càng bé lại. Ông cười: thì bây giờ cứ sáu mươi là về hưu rồi, không được trì hoãn nữa. Lại ai đọc câu thơ nữa của ông: Đem bục công an đặt giữa trái tim người. Ông cười: thì bây giờ là đem trái tim người đặt giữa bục công an. Sảng khoái cái cười Lê Đạt cho thấy đời là vậy, vốn vậy, uốn éo bẻ cong bẻ xiên gì thì cuộc sống vẫn cứ là đi theo một đường thẳng đến chỗ nó phải đến.

2. Nửa thế kỷ trước, Lê Đạt từng làm những bài thơ rất hiện thực, rất cảm hứng ngợi ca cách mạng, chế độ mới. Ông biểu dương đôi vợ chồng trẻ nông dân đào giếng lấy nước tưới tắm mùa màng không sợ đụng long mạch, nghĩa là dám phá bỏ những tập tục lạc hậu, những rào chắn tư tưởng. Ông ca ngợi họ là Những con người dám cả gan đánh bốc / Với những già nua cũ kỹ của cuộc đời. Ông vui niềm vui của những người thợ đổ thùng ơn nhờ cách mạng đã được đổi đời, được lên lầu Marty ở. Thơ ông, nửa thế kỷ trước, hừng hực khí thế của những con người nắm chắc tương lai, tin vào hiện tại, với chỉ một khẩu hiệu niềm tin: Mới! Mới!/ Luôn luôn Mới / Bay cho cao / Bay cho xa / Trên những vết già nua cũ kỹ / Trên lề đường han rỉ / Vượt ngày hôm nay / Vượt ngày mai, ngày kia,/ Vượt mãi… Sự chân thật hăng hái hồn nhiên có cả phần ngây thơ đó đã bị mắc kẹt vào một thời lịch sử khắc nghiệt và ấu trĩ. Lê Đạt và những đồng nghiệp của ông đã thấm và đã biết cái giá của những câu chữ viết ra bằng máu đỏ và lòng thành.

3. May sao, ông đã học được từ cha mình bài học lớn: Đau thương kiên quyết làm người / Không nên lùi bước trước cuộc đời / Phải thắng. Trong bóng khuất, trong im lặng những tháng năm hoạn nạn, Lê Đạt và bạn hữu đã biết “vịn câu thơ mà đứng dậy” (Phùng Quán). Ông có CHỮ làm đích sống. Để rồi khi vận động xã hội đặt trở lại người nào chỗ ấy, vật nào nơi nấy, ông lại lên tiếng bằng tập thơ chung 36 bài tình Lê Đạt – Dương Tường. Và khi Bóng chữ xuất hiện, Lê Đạt đã chứng minh sáng tạo là sự vượt thoát giam cầm thể xác, tù hãm tinh thần, là sự vượt thoát cái chết. “Tư duy được cấu trúc như ngôn ngữ”, ông ngộ ra điều này từ Lacan. Bởi thế, nhà thơ là người làm chữ, là “phu chữ”. Giờ thì hai tiếng này của ông đã thành một chỉ hiệu của người làm thơ. Ông viết: “Đời người thơ hạnh phúc có lẽ là lần tìm những lời tinh mơ nhất để tỏ tình. Ngỏ lời bằng những ngó lời”. Làm thơ cũng như làm một khoa học chính xác, được quyền thử và sai, để kết quả cuối cùng là đáp số những câu thơ lạ và hay. Như một kiểu thơ Haikâu chế tạo bởi Lê Đạt: Ngực dự hương thơm đêm mùi tuổi chín / Mắt lá tre đằng ngậm mộng ba giăng…

4. Ít ai biết thời kháng Pháp Lê Đạt từng ở bộ phận thư ký của ông Trường Chinh. Dịp rồi kỷ niệm trăm năm sinh nhà lãnh đạo cách mạng này, nhiều người thân cận kể các hồi ức, kỷ niệm. Ông thì im lặng. Ông bảo đó là việc đời, đời xong việc rồi, thì thôi. Bây giờ làm thơ, đọc sách, “và khỏe thì đi chơi với các cậu, chơi được là thú”. Tôi hiểu. Có cái dũng của đại nhân phía này. Lại có cái hèn đại nhân phía khác. Dũng và hèn, nếu là ở đại nhân đích thực, đều là đáng trọng, đáng phục. Đang vui chuyện thế, chợt ông quay sang nhắc tôi cho ông mượn cuốn Điều kiện hậu hiện đại bản tiếng Pháp của F. Lyotard. Đọc để biết cái thời nay mình đang sống là thế nào, ông nói. Cái thời nay… Lyotard định nghĩa hậu hiện đại một cách đơn giản nhất là “sự hoài nghi đối với các đại tự sự”. Lê Đạt cũng khoái ông triết gia Pháp này.

5. Giải thưởng Nhà nước trao tặng cho Lê Đạt và ba bạn văn đồng cảnh ngộ như ông, tôi đã viết, là một sự công bằng lịch sử, một sự giải oan lịch sử. Ý nghĩa tinh thần là quan trọng. Lê Đạt bây giờ sống gần đê sông Hồng hơn gần Hồ Gươm. Mỗi sáng thay vì đi bộ quanh một vòng hồ thì ông đi dọc những con đường ven đê. Nửa thế kỷ đã trôi qua giữa hai thiên niên kỷ. Lê Đạt vẫn viết, mới mẻ, cố luôn mới. Gặp ông, trò chuyện, lại nghe ông cười, cái cười như mọi chuyện trên đời không có gì to tát, nghiêm trọng cả. Sống, đấy là cái chính. Mà với ông, Lê Đạt, sống là Sáng Tạo, là Mới.

Hà Nội 15/3/2007

© 2007 talawas

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: